Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào các hoạt động giáo dục ở lớp 5A

docx 11 trang tueanh 21/02/2026 970
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào các hoạt động giáo dục ở lớp 5A", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxmot_so_kinh_nghiem_van_dung_phuong_phap_day_hoc_theo_dinh_hu.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào các hoạt động giáo dục ở lớp 5A

  1. Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào các hoạt động giáo dục ở lớp 5A, trường Tiểu học Tùng Khê, xã Tùng Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ I. ĐẶT VẤN ĐỀ Một trong những quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông trình tổng thể được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 7 năm 2017 là “ Phát triển phẩm chất và năng lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mĩ; chú trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong học tập và đời sống”. Đối với giáo dục tiểu học, Chương trình “ giúp học sinh hoàn thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt”. Như vậy, một trong những yếu tố cốt lõi của định hướng xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông nói chung và chương trình giáo dục tiểu học nói riêng là phát triển năng lực học sinh. Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, “ năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Dạy học “ truyền thống” nặng về truyền đạt kiến thức một chiều từ giáo viên đến học sinh và luyện các dạng bài tập theo mẫu để hình thành kỹ năng tương ứng cho học sinh. Việc học tập bị áp đặt như vậy nên kém chất lượng và hiệu quả. Những kiến thức và kỹ năng đó kém bền vững, mau chóng bị quên lãng, mai một theo thời gian. Hơn nữa, học sinh không cảm nhận được ý nghĩa của nội dung học tập đối với cuộc sống nên
  2. không hứng thú với việc học, dẫn tới lười học, chán học, thậm chí có em chịu những hậu quả tâm lý đáng tiếc như rối loạn hành vi, trầm cảm Ngược lại, dạy học phát triển năng lực không đặt nặng vào kết quả kiến thức, kỹ năng mà vào quá trình học tập, từ đó, phát triển năng lực học sinh. Nó có những ưu thế sau: Phát triển được tu duy, trí thông minh của từng học sinh, làm cho kết quả học tập ( kiến thức, kỹ năng, thái độ) có tính bền vững, khai thác và làm phong phú vốn kinh nghiệm sống của học sinh, giúp học sinh giả quyết các vấn đề cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, làm cho việc học tập của học sinh trở nên thú vị, hấp dẫn, tự giác Xuất phát từ quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện của Chương trình giáo dục phổ thông trình tổng thể được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tháng 7 năm 2017 và việc nhận thức được những ưu thế của dạy học phát triển năng lực đồng thời căn cứ vào những việc thực tế mình đã làm tôi viết thành sáng kiến “Một số kinh nghiệm vận dụng phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh vào các hoạt động giáo dục ở lớp 5A, trường Tiểu học Tùng Khê, xã Tùng Khê, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ” để chia sẻ với bạn bè, đồng nghiệp kinh nghiệm mà tôi đã áp dụng ở lớp tôi trong hai năm học 2017-2018 và 2018-2019 ở trường Tiểu học Tùng Khê. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Phần I. Thực trạng vấn đề: Trường Tiểu học Tùng Khê nằm trên địa bàn xã Tùng Khê - một xã miền núi nghèo của huyện Cẩm Khê. Đội ngũ CB, GV, NV đảm bảo đủ về số lượng, đa số GV trẻ nhiệt tình và có lòng yêu nghề mến trẻ. Đội ngũ GV luôn tham gia tích cực các cuộc vận động của ngành và các nội dung mà đơn vị đã xây dựng. Nhà trường đã huy động được nhiều sự đóng góp của cha mẹ HS và các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường trong việc xây dựng, tu bổ CSVC, cảnh quan trường lớp học. * Đặc điểm tình hình của lớp chủ nhiệm:
  3. + Năm học 2017- 2018: Tôi tiếp tục làm công tác giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5A. Với tổng số HS tăng thêm 1 em là 22 HS. Trong đó 14 HS nữ và 8 HS nam. + Năm học 2018-2019: Tôi được giao nhiệm vụ giảng dạy lớp 5A. Tổng số : 41 HS. Trong đó: 18 HS nữ và 23 HS nam; hơn 50 % HS thuộc con hộ nghèo; HS có bố mẹ đi làm ăn xa gần 20%... Khi được nhận nhiệm vụ giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5A, tôi đã tìm hiểu các thông tin về kết quả các HĐGD của lớp năm học trước. Trong những năm học trước, các em đã được tham gia học tập theo các PPDH tích cực và một số HĐGD ngoài giờ lên lớp nhằm tạo môi trường học tập thân thiện. Tuy nhiên, các em vẫn còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, chưa chủ động tham gia các hoạt động học tập và vui chơi. Kiến thức mà học sinh thu nhận kém bền vững, tư duy chưa phát triển nhiều. Đa phần các em học sinh không bị thu hút bởi các nội dung học tập, vẫn còn hiện tượng học sinh lười học, chán học. Kinh nghiệm sống của học sinh bị gạt khỏi bài học dẫn đến năng lực vận dụng bài học đạo đức vào thực tiễn cuộc sống không phát triển. Phần 2: Các biện pháp để giải quyết vấn đề 1.Xác định mục tiêu bài học gắn với năng lực của học sinh: Dạy học phát triển năng lực gồm quá trình học sinh tự chiếm lĩnh, hình thành, phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ và những kết quả. Do đó, mục tiêu của dạy học phát triển năng lực đặt ra không chỉ là kiến thức, kỹ năng và thái độ mà còn quan trọng là cách thức, con đường HS “đi” từ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã có “đến” những kết quả đó, tức là năng lực. Dạy học năng lực coi trọng quá trình học sinh trải nghiệm, khám phá, vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm vào thực tiễn cuộc sống...Trong quá trình đó, học sinh luôn tư duy cao độ để đạt được kết quả là những kiến thức, kỹ năng, thái độ theo bài học quy định. Mục tiêu của dạy học phát triển năng lực là làm rõ hai yếu tố: quá trình và kết quả. Trong đó, “quá trình” là học sinh tư duy như thế nào, giải quyết vấn đề gì, làm gì, thực
  4. hiện hoạt động gì?....; “Kết quả” là học sinh đạt được kết quả gì qua hành động của mình?.... Một mục tiêu nữa của dạy học phát triển năng lực học sinh là việc hình thành năng lực học sinh phải được thực hiện qua từng môn học, từng bài học, từng tiết học, từng hoạt động.... Vì vậy, với mỗi bài học tôi luôn xác định được rõ những năng lực cần phát triển cho học sinh trong mục tiêu bài học, nhất là ba nhóm năng lực cốt lõi (tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo). Trong quá trình soạn giảng, tôi cũng đã chú trọng đến việc đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu của bài học và các hoạt động. 2. Lựa chọn nội dung phù hợp: - Khi dạy học sinh, tôi bám sát nội dung chương trình, lựa chọn nội dung bài học cụ thể hóa nội dung chương trình môn học, có tính pháp lý, không dạy học sinh những nội dung ngoài chương trình quy định. - Tôi lựa chọn nội dung phù hợp phục vụ cho việc giúp học sinh đạt được mục tiêu bài học. - Bên cạnh đó, gắn liền nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống của các em, điều kiện tự nhiên xã hội của đất nước, trước hết là cuộc sống, thực tế địa phương nơi các em sống và học tập cũng là điều tôi luôn chú trọng. Những nội dung bài học gần gũi thực tế nằm trong “ trường quan tâm” của học sinh tiểu học, giúp các em khái quát hóa kiến thức thực tiễn thành tri thức khoa học, lí giải những sự vật, hiện tượng khác nhau, giải quyết các tình huống thường gặp trong cuộc sống, “sửa lại” những tri thức thông thường thiếu chính xác của các em ( nếu có). - Tăng cường nội dung thực hành, nhất là hoạt động ứng dụng được học sinh tiến hành chủ yếu vào thời gian ngoài giờ lên lớp ở gia đình, tại cộng đồng dân cư: Những nội dung thực hành này gắn những kiến thức, kỹ năng mà các em hình thành được qua tiết học trên lớp với thực tiễn xung quanh mình, vận dụng, ứng dụng chúng vào bối cảnh thực
  5. tiễn để giải quyết các vấn đề cuộc sống của mình, gia đình, cộng đồng và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Những nội dung thực hành này không những góp phần giúp HS phát triển được năng lực vận dụng, bảo đảm tính bền vững của những tri thức, kỹ năng được hình thành trên lớp, làm cho việc học tập của các em trở nên hứng thú và tích cực hơn. - Tôi lựa chọn nội dung dạy học vừa sức với học sinh: Tính vừa sức thể hiện ở ba bình diện- toàn lớp, nhóm và nhất là từng các nhân học sinh. Nội dung vừa sức là một điều kiện giúp học sinh thực hiện thành công các hoạt động, phát triển năng lực, khắc phục những mặt yếu kém, hạn chế ( nếu có) và đồng thời phát huy được những mặt mạnh, yếu tố tích cực, năng khiếu của từng học sinh. - Khi tổ chức hoạt động, nhất là hoạt động thực tiễn cho học sinh, tôi kết nối nội dung một số lĩnh vực, môn học với nhau để đảm bảo tính tích hợp nội dung bài học. Qua đó, học sinh phát triển được tư duy bậc cao khi phân tích, giải quyết vấn đề liên quan đến chủ đề học tập, năng lực thực tiễn được phát triển bền vững. - Ngoài ra, tôi khai thác nội dung học tập từ nhiều nguồn thông tin khác nhau: Ngoài sách giáo khoa, giáo viên cần khuyến khích học sinh tìm hiểu các nguồn khác như sách tham khảo, báo chí, thực tiễn cuộc sống và nhất là internet... Những nội dung thông tin này không chỉ được học sinh tìm kiếm, phát hiện, mở rộng mà còn vận dụng vào cuộc sống hàng ngày của mình. Trong quá trình sử dụng các nguồn thông tin phục vụ cho bài học, học sinh phát triển được nhiều năng lực khác nhau như tự học, giao tiếp, và hợp tác, giải quyết vấn đề... 3. Lựa chọn và vận dụng phương pháp dạy học tích cực: Phương pháp dạy học là cách thức, con đường giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh tiểu học. Vì vậy, khi vận dụng các phương pháp dạy học phát triển năng lực cho học sinh tiểu học tôi đã chú ý những điểm sau: * Chú trọng đến phương pháp tự học của học sinh:
  6. - Tôi tổ chức cho các em tự học theo hình thức nhóm và cá nhân với sự hỗ trợ của những tài liệu, phương tiện, đồ dùng dạy học thích hợp. - Việc tự học của các em không chỉ được thực hiện trên lớp mà còn ở thư viện, gia đình, ngoài xã hội để mở rộng, làm giàu kiến thức, kinh nghiệm của mình và phát triển năng lực. *Tổ chức việc học tập qua những hoạt động của học sinh: - Tôi vận dụng một số phương pháp dạy học mang tính thực hành như : “ bàn tay nặn bột”, điều tra, giải quyết vấn đề, tổ chức trò chơi, dự án, để kích thích học sinh sử dụng các giác quan khác nhau, trải nghiệm cuộc sống, khái quát những cảm nhận thông thường thành tri thức khoa học, đối chiếu tri thức được học qua môn học với thực tiễn phong phú, ứng dụng tri thức vào cuộc sống hằng ngày để giải thích các sự vật, sự việc, hiện tượng , giải quyết các vẫn đề nảy sinh trong thực tiễn, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình * Coi trọng việc phát triển tư duy của học sinh: - Trong dạy học, tôi không dạy kiến thức mà dạy cách tìm kiếm, con đường đi từ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đã biết đến kiến thức mới và nhờ đó, các em phát triển được những kĩ năng tư duy và năng lực tương ứng. Đây cũng là phương tiện giúp học sinh của tôi phát triển năng lực, đạt được kết quả và tự học suốt đời. Một số phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh mà tôi thường áp dụng, đó là: - Giải quyết vấn đề. - Thảo luận nhóm. - Bàn tay nặn bột. - Điều tra. - Tổ chức trò chơi. - Dự án.
  7. 4. Vận dụng hình thức tổ chức dạy học phù hợp với việc phát triển năng lực học sinh. Những hình thức tổ chức dạy học tôi trú trọng vận dụng trong quá trình dạy học phát triển năng lực học sinh là: - Về quy mô học sinh: nhóm, cá nhân. - Về thời gian: hoạt động học tập trên lớp, hoạt động ngoại khóa. - Về không gian: dạy học tại hiện trường. - Về loại hình, hình thức hoạt động cụ thể: trò chơi, lao động, tham quan, công tác xã hội... 5. Coi trọng quy trình kiểm tra, đánh giá năng lực học sinh: Những năng lực chung là điều kiện cho việc phát triển các năng lực chuyên môn cho học sinh. Do đó, để quá trình phát triển năng lực của học sinh có hiệu quả thì quá trình kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện đúng mức: Trong quá trình học sinh học tập, tôi luôn bao quát lớp, quan sát các em, nhất là những em chậm, chưa tập trung làm bài lắng nghe học sinh bày tỏ ý kiến, thảo luận, chia sẻ với bạn, tranh luận với nhau; nhìn vào vở bài tập hay phiếu học tập để nắm bắt kết quả của từng học sinh. Đối chiếu mục tiêu hoạt động, bài học đã đề ra với quá trình và kết quả hoạt động của học sinh để ghi nhận những biểu hiện năng lực, những yếu tố tích cực của quá trình và kết quả đúng, các lỗi còn mắc phải của từng em từ đó tôi định hướng cách khắc phục lỗi hoặc nâng cao yêu cầu để phát triển năng lực học sinh. Đồng thời, tôi nhấn mạnh sự động viên, khích lệ, biểu dương, khen ngợi dành cho từng học sinh. Bên cạnh đó, tôi đã vận dụng phối hợp các phương pháp, kĩ thuật kiểm tra đánh giá năng lực học sinh như: vấn đáp, đối thoại, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng, quan sát, trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan,...cũng rất quan trọng trong quá trình đánh giá năng lực học sinh.
  8. Trong đánh giá học sinh, tôi kết hợp sự tham gia của gia đình học sinh không chỉ với vai trò tiếp nhận đánh giá của giáo viên đối với con mình mà còn giúp con khắc phục, sửa lỗi, giám sát việc khắc phục này, thông báo với giáo viên về quá trình và kết quả sửa lỗi, sự tiến bộ của học sinh, từ đó hình thành năng lực tự học, tự giải quyết vấn đề cho học sinh. Phần 3: Hiệu quả sáng kiến: Bằng việc bản thân tự nghiên cứu các biện pháp tích cực rồi đi đến các việc làm cụ thể, phù hợp với đối tượng HS của lớp và có tính sáng tạo, tính tích hợp, cùng với sự ủng hộ, tư vấn của Ban Giám hiệu nhà trường, Tổ chuyên môn và quan trọng nhất là sự đồng tình của cha mẹ HS và sự cố gắng của các em HS trong lớp, việc vận dụng các phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh vào dạy học lớp tôi đã đem đến những thành công đáng kể: - Các em đã phát triển được tư duy- cơ sở của việc hình thành năng lực. - Kết quả học tập của các em có tính bền vững hơn: Học sinh lớp tôi luôn có ý thức tự học qua việc tự phát hiện, tự chiếm lĩnh kiến thức nhờ quá trình trải nghiệm nên học sinh hứng thú với việc học tập và kiến thức có tính bền vững. - Kinh nghiệm sống của các em ngày càng phong phú và học sinh phát triển được các năng lực khác nhau như: thực hiện hành vi đạo đức, tìm hiểu tự nhiên, giao tiếp - Đa số học sinh vận dụng được kiến thức và kỹ năng toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn của mình, từ đó, nâng cao chât lượng cuộc sống của bản thân, gia đình, cộng đồng - Học sinh tự giác hơn trong học tập nhờ việc cảm nhận được việc đi học là thú vị, hấp dẫn, nhận thấy lợi ích thiết thực của học tập. Và tính tự giác ngày càng được củng cố, khẳng định khi học sinh được tiếp xúc với thiên nhiên, được trải nghiệm qua cuộc sống thực tiễn để chính mình tự phát hiện ra kiến thức, tự khám phá ra những điều mới mẻ mà không phải buộc thừa nhận những nội dung khô khan bày sẵn trong sách giáo khoa.
  9. - Qua việc hiểu rõ từng cá nhân học sinh và cư xử thân thiện với các em, từng học sinh lớp tôi có những tiến bộ và phát triển không ngừng. Các em cũng cũng cảm nhận được vai trò của người thầy và thêm yêu quý, gần gũi với tôi hơn. - Đồng thời, với việc giao nhiệm vụ vừa sức học sinh, tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân học sinh, không so sánh kết quả học tập của học sinh và tạo cơ hội cho các em cùng nhau giải quyết một vấn đề theo nhóm nhỏ, tôi đã xây dựng được mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa các học sinh lớp tôi. Các em tạo được thói quen trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập; biết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ theo sự hướng dẫn của giáo viên. Đặc biệt, các em được giao nhiệm vụ làm nhóm trưởng đã báo cáo được kết quả thực hiện nhiệm vụ của cả nhóm; tự nhận xét được ưu điểm, thiếu sót của bản thân theo hướng dẫn. - Điều đặc biệt là trong mỗi nội dung học tập trải nghiệm, hoạt động ngoại khoá, hoạt động kết nối nội dung học tập với thực tiễn cuộc sống của học sinh lớp tôi luôn có sự đồng hành của các lực lượng giáo dục, nhất là gia đình học sinh. - Trên hết, dạy học phát triển năng lực giúp mỗi học sinh của tôi trờ nên thông minh hơn và hạnh phúc hơn. Điều đó đáp ứng được mục đích cao cả của nền giáo dục tiến bộ và hiện đại. III. KẾT LUẬN 1. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm: Qua gần hai năm thực hiện các giải pháp vận dụng phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực học sinh ở lớp tôi chủ nhiệm đã mang lại những kết quả tốt đẹp. Việc sử dụng linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học đã phát huy được tính tích cực, chủ động, tinh thần hợp tác, chia sẻ để cùng nhau tìm tòi, khám phá kiến thức trong HS. Học sinh luôn tự học, tự khám phá, tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành năng lực tự chủ- tự học, giao tiếp- hợp tác, giải quyết vấn đề sáng tạo và các năng lực chuyên môn khác. Các em phát triển tốt các kỹ năng sống. Tạo được một môi trường học tập thân thiện và được sự đồng thuận của phụ huynh HS, cộng đồng xã hội. Chất lượng giáo dục ngày càng cao và thực sự có hiệu quả.
  10. Sáng kiến kinh nghiệm này đã áp dụng thành công tại lớp tôi thì cũng phù hợp để áp dụng ở các lớp tại các trường Tiểu học trong huyện Cẩm Khê. Tôi tin rằng sáng kiến kinh nghiệm này sẽ được các trường bạn tin tưởng thực hiện. Qua việc nghiên cứu và viết sáng kiến này, tôi rút ra được bài học kinh nghiệm là: Bản thân phải tâm huyết với nghề; Khi huy động phụ huynh HS phải khéo léo; Biết chọn lọc và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực khi dạy học. 2.Kiến nghị, đề xuất: * Với Phòng GD&ĐT, nhà trường: Tiếp tục tổ chức sinh hoạt chuyên môn cấp cụm trường, cấp trường về việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở tiểu học. * Đối với GV nhà trường: Tăng cường nghiên cứu và vận dụng PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Tùng Khê, ngày ... tháng ... năm 2019 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG sao chép nội dung của người khác, từ mạng ĐƠN VỊ internet và không dùng lại SKKN của mình từ những (Ký, ghi rõ họ tên, đóng dấu) năm trước. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quy định đánh giá học sinh tiểu học ( Ban hành kèm theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Tháng 7 năm 217. 3. Đặng Tự Ân, Mô hình trường học mới tại Việt Nam, Hỏi- đáp, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2014.
  11. 4. Nguyễn Hữu Hợp, Thiết kế bài học phát triển năng lực học sinh tiểu học, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2016. 5. Nguyễn Hữu Hợp, Hướng dẫn dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tiểu học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016.