Bài giảng Tiếng Việt Lớp 3 - Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng (Tiết 1+2) - Năm học 2023-2024 - Nguyễn Thị Kim Thuận

pptx 26 trang tueanh 25/01/2026 1070
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Tiếng Việt Lớp 3 - Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng (Tiết 1+2) - Năm học 2023-2024 - Nguyễn Thị Kim Thuận", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pptxbai_giang_tieng_viet_lop_3_bai_22_su_tich_ong_dung_ba_dung_t.pptx

Nội dung tài liệu: Bài giảng Tiếng Việt Lớp 3 - Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng (Tiết 1+2) - Năm học 2023-2024 - Nguyễn Thị Kim Thuận

  1. Môn Tiếng Việt - Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng ( T1+2) Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Giáo viên: Nguyễn Thị Kim Thuận Đơn vị: Trường Tiểu học Vạn Thắng 2
  2. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Tiếng việt – Lớp 3 Khởi động ĐọcĐọc đoạnđoạn 12 củabài “Nhàbài : “ rông” Nhà Rông”và trả lờivà câutrả lời hỏi: câu Kiến hỏi: trúc bên trong của nhà rôngĐặc điểmcó gì nổiđặc bậtbiệt? về hình dạng của nhà rông ở Tây Nguyên là gì?
  3. Quan sát tranh minh hoạ, cho biết hai người trong tranh đang làm gì.
  4. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Môn Tiếng Việt -Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng
  5. KHÁM PHÁ
  6. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Môn Tiếng Việt -Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng HOẠT ĐỘNG 1: Luyện đọc văn bản
  7. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Tiếng việt – Lớp 3 Tiết 1: Đọc : Sự tích ông Đùng, bà Đùng Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là ông bà khổng lồ. Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy. Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay. Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” như bây giờ. (Theo Truyện cổ dân tộc Mường)
  8. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Môn Tiếng Việt -Lớp 3Môn Tiếng Việt -Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngBài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngTiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng LUYỆN ĐỌC TÌM HIỂU BÀI
  9. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Môn Tiếng Việt -Lớp 3Môn Tiếng Việt -Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngBài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngTiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng LUYỆN ĐỌC TÌM HIỂU BÀI Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy.
  10. Cùng chia đoạn Sự tích ông Đùng, bà Đùng 1 Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là ông bà khổng lồ. 2 Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy. 3 Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay. 4 Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” như bây giờ. (Theo Truyện cổ dân tộc Mường)
  11. Sự tích ông Đùng, bà Đùng 1 Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là ông bà khổng lồ. 2 Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy. 3 Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay. 4 Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” như bây giờ. (Theo Truyện cổ dân tộc Mường)
  12. Mường Bi: Địa danh thuộc huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
  13. Chằng chịt: (cây cối) đan vào nhau dày đặc và không theo hàng lối nhất định.
  14. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Môn Tiếng Việt -Lớp 3Môn Tiếng Việt -Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngBài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngTiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng LUYỆN ĐỌC TÌM HIỂU BÀI Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành - Mường Bi cánh đồng bằng phẳng rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở - Chằng chịt và cày cấy. - Ra tay bắt đầu làm để tỏ rõ khả năng, tài trí của mình.
  15. Hì hụi: dáng vẻ cặm cụi, làm việc gì đó một cách khó nhọc, kiên nhẫn. .
  16. Ghềnh: chỗ lòng sông bị thu hẹp và nông, có đá nằm chắn ngang, làm nước dồn lại và chảy xiết.
  17. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Tiếng việt – Lớp 3 Tiết 1: Đọc : Sự tích ông Đùng, bà Đùng Ngày xửa ngày xưa, ở xứ Mường Bi xuất hiện một đôi vợ chồng cao lớn khác thường. Họ đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất. Người Mường hay gọi họ là ông Đùng, bà Đùng, nghĩa là ông bà khổng lồ. Hồi ấy, đất thì cao thấp, lồi lõm. Cây cối hoang dại mọc chằng chịt. Nước thì chảy từ lòng đất, ngập lênh láng khắp nơi. Thấy vậy, ông Đùng, bà Đùng liền ra tay. Chỉ một ngày, ông bà đã nhổ cây, san đất, làm thành cánh đồng bằng phẳng, rộng rãi, lấy chỗ cho dân ở và cày cấy. Ông Đùng bàn với vợ làm một con đường dẫn nước đi, tránh để nước tràn lênh láng. Ông Đùng lom khom dùng tay bới đất đằng trước, bà Đùng hì hụi vét đất đằng sau. Họ làm việc suốt ngày đêm, cùng trò chuyện vui vẻ. Thế rồi, theo con đường ông bà Đùng đào bới, nước đã chảy thành dòng, vượt qua đồi núi, đổ về xuôi. Đó chính là sông Đà ngày nay. Xong mọi việc, ông bà Đùng ngẩng đầu nhìn lại mới biết: Do vét đất ban đêm, không nhìn rõ, dòng sông đã không thẳng. Nơi chưa được vét, đất đá cản trở dòng chảy và tạo thành thác ghềnh. Vì thế, sông Đà mới ngoằn ngoèo, có tới “trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh” như bây giờ. (Theo Truyện cổ dân tộc Mường)
  18. HOẠT ĐỘNG 2: Trả lời câu hỏi
  19. Thứ tư ngày 17 tháng 4 năm 2024 Môn Tiếng Việt -Lớp 3Môn Tiếng Việt -Lớp 3 Bài 22: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngBài 22: Sự tích ông Đùng, bà Đùng Tiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà ĐùngTiết 1: Đọc: Sự tích ông Đùng, bà Đùng HOẠT ĐỘNG 1: Luyện đọc văn bản HOẠT ĐỘNG 2: Trả lời câu hỏi 1.Ông Đùng, bà Đùng có điểm gì khác thường về ngoại hình? Ông bà Đùng đứng cao hơn năm lần đỉnh núi cao nhất.